“Tết” là biến dạng phiên âm của “Tiết”, một thuật ngữ Hán Việt có nghĩa là “Chặng tre nối đuôi nhau” và theo nghĩa rộng hơn, là “đầu một năm”, ảnh hưởng văn hóa của Tết Âm lịch Trung Hoa và Vòng văn hóa Đông Á. Có nhiều Tết trong năm của người Việt là: Tết Trung thu, Tết mùng 5/5,... Nhưng quan trọng nhất vẫn là ngày Tết cổ truyền (Tết Nguyên Đán).
Tính theo âm lịch là chu kỳ vận hành của Mặt Trăng nên Tết Nguyên Đán của Việt Nam muộn hơn Tết Dương lịch (còn được gọi là Tết Tây). Do quy luật 3 năm nhuận một tháng của âm lịch, nên ngày đầu năm của dịp Tết Nguyên đán không bao giờ trước ngày 21/01 dương lịch và sau ngày 19/02 dương lịch, mà thường rơi vào khoảng cuối tháng 1 đến giữa tháng 2 dương lịch.
Ở Việt Nam, Tết cổ truyền còn được gọi là Tết Nguyên Đán. Đó là ngày Tết chính thức của Việt Nam, đánh dấu sự xuất hiện của mùa xuân dựa trên Âm lịch. Đây là lễ hội quan trọng và phổ biến nhất của người dân Việt Nam trong năm.
Tết cổ truyền Việt Nam được diễn ra vào khoảng cuối tháng Giêng hoặc tháng Hai theo lịch âm. Người Việt Nam có niềm tin phổ biến rằng có 12 con vật linh thiêng từ Hoàng đạo thay phiên nhau giám sát và điều khiển các công việc của trái đất. Như vậy, Giao thừa là thời khắc nhường lại công việc cai quản cho một con vật mới theo thứ tự 12 con giáp.
1.1 Ý nghĩa của Tết cổ truyền Việt Nam
Tết Nguyên Đán là tên gọi đầy đủ của ngày Tết cổ truyền. Và mục đích của ngày Tết cổ truyền của người Việt Nam là muốn tạ ơn các vị thần vì mùa xuân đến với muôn vàn loài hoa và cây cối khoe sắc sau một mùa đông khắc nghiệt và lạnh giá.
Ý nghĩa ngày Tết cổ truyền Việt Nam là dịp đặc biệt để mọi người hành hương đi chùa, đền. Các thành viên trong gia đình sum họp để cùng nhau đón một năm mới, hy vọng một năm mới tốt đẹp hơn và tạm biệt năm trước. Vì đây là một trong những lễ hội quan trọng nhất đối với người dân Việt Nam, nên mọi thứ phải được chuẩn bị tươm tất nhất với mong muốn một năm mới an khang thịnh vượng, quanh năm đầy đủ ấm no.
1.2 Sự khác biệt của Tết cổ truyền Việt Nam xưa và nay
Thời gian thâm thoát trôi qua, con người, đất nước, mọi thứ dần thay đổi phát triển để thích nghi với hiện tại. Vì thế mà ngày Tết cổ truyền Việt Nam cũng dần thay đổi theo từng thời kì. Chắc hẳn bạn cũng muốn tìm hiểu qua vài nét khác biệt giữa Tết xưa và nay như thế nào.
Tết cổ truyền Việt Nam xưa
Thời xưa, ngày Tết không chỉ là thời gian nghỉ ngơi mà quan trọng hơn quanh năm mọi người làm ăn vất vả, chỉ có ngày Tết mới được thưởng thức những món ngon. Do đó, việc chuẩn bị cho việc ăn Tết rất được chú trọng. Nào là nuôi heo chuẩn bị thịt đón Tết, gói bánh chưng cũng được chuẩn bị từ rất sớm ngay từ đầu tháng Chạp.
Món ăn kèm dưa hành thời xưa luôn xuất hiện trong mỗi nhà dịp Tết, dưa hành đứng vào 6 loại phẩm vật đặc trưng của Tết cổ truyền Việt Nam xưa: “cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh, thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ”.
Không khí Tết bắt đầu từ ngày 23 tháng Chạp khi mọi nhà đều tiễn ông Táo lên chầu Trời. Từ ngày 24 Tết trở đi, không khí trở nên rộn rã, trẻ con rộn rã xem đốt pháo ì đùng ở sân đình. Người lớn thì đi tạ mộ ông bà, lau dọn bàn thờ tổ tiên, tổng vệ sinh nhà cửa,…Từ ngày 27 – 30 tháng Chạp, nhà nhà lo mổ lợn, gói bánh chưng, bánh tẻ, quấy chè lam, nấu kẹo lạc,…
Tết cổ truyền Việt Nam hiện nay
Cùng với sự phát triển đất nước, đời sống ngày càng đủ đầy nên việc ăn uống trong ngày Tết hiện đã không còn quá quan trọng. Nếu như xưa kia, cả năm chỉ đợi đến ngày Tết để được ăn miếng bánh trưng, thịt lợn, gà... thì nay bánh trưng được bán quanh năm ngoài chợ, thịt cá là những thức ăn hàng ngày.
Do đó, đây không còn là những món ăn đặc biệt, cơ bản trong ngày Tết nữa. Nhiều gia đình vẫn duy trì việc gói bánh trưng nhưng chỉ là để vui, để cho có không khí ngày Tết.
Việc chuẩn bị Tết cũng không phải cầu kỳ, vất vả như trước. Mọi mặt hàng từ hoa quả, bánh trái, thực phẩm, đồ uống... đều có sẵn, chỉ dành ra một, hai buổi là có thể sắm đủ. Bên cạnh đó, hiện nay nhiều gia đình còn chọn cách đón Tết theo xu hướng du lịch nước ngoài.
Tuy khác biệt về việc chuẩn bị cho Tết cổ truyền Việt Nam, nhưng chung quy lại thì người Việt vẫn ý thức được việc giữ gìn bản sắc dân tộc trong việc thờ cúng tổ tiên và quan trọng là các thành viên trong gia đình sum vầy, quây quần cùng nhau đón Tết.
2. Phong tục Tết cổ truyền Việt Nam
Mặc dù Tết là quốc lễ của mọi người Việt Nam, nhưng mỗi vùng miền, tôn giáo lại có những phong tục tập quán riêng. Tết ở ba miền Việt Nam có thể chia thành ba tiết, gọi là Tất niên (Trước giao thừa), Giao thừa (Giao thừa) và Tân niên (Năm mới), tượng trưng cho việc chuẩn bị trước Tết, thời khắc giao thừa. Tết, lần lượt là những ngày trong và sau Tết. Tất cả những phong tục này là để đón Tết ở Việt Nam.
Tất niên
Tất Niên xảy ra vào ngày 30 hoặc 29 của tháng cuối âm lịch. Đây là thời điểm hoàn hảo để mọi người quây quần và thưởng thức bữa ăn cuối cùng của năm bên gia đình, trong đó mọi thành viên sẽ chia sẻ những khoảnh khắc hạnh phúc và chỉ nói về những điều tốt đẹp.
Giao thừa
Giao thừa chính là khoảng khắc năm cũ qua đi và năm mới tới. Mỗi gia đình sẽ chuẩn bị hai mâm cỗ - một mâm cỗ ngoài trời cúng Thần linh hoặc những vong hồn lang thang cơ nhỡ, mâm cỗ cúng tổ tiên trong nhà để cầu mong một năm mới sức khỏe, thịnh vượng và may mắn đến với mọi thành viên trong gia đình.
Đối với lễ cúng ngoài trời, một số thức ăn được chuẩn bị để cúng như đầu lợn hoặc gà luộc, muối, trầu cau, hoa quả, cơm rượu /nước và gạo. Trong khi mâm cúng gia tiên, một số lễ vật là bánh Chưng, gà luộc, xôi, rượu gạo,…
Tân niên
Cũng tương tự như Tất niên, thì Tân niên thường được mọi người tổ chức tiệc họp mặt đầu năm. Họ dành cho nhau những lời chúc năm mới may mắn, tốt đẹp và mong muốn một khởi đầu mới đạt được sự thành công, tốt đẹp hơn năm vừa qua.
3. Ẩm thực ngày Tết Việt Nam
Ngày Tết Việt Nam không chỉ là những ngày mang ý nghĩa nét đẹp văn hóa mà bên cạnh đó, ẩm thực ngày Tết cũng được chú trọng, mang nhiều màu sắc gắn liền với ý nghĩa câu chuyện khác nhau. Mỗi món ăn truyền thống này dường như chỉ dành cho ngày Tết mà các ngày khác trong năm không có hoặc chỉ có những ngày đặc biệt mới có.
Mỗi vùng miền trên đất nước Việt Nam sẽ có những nét ẩm thực ngày Tết đặc trưng riêng. Hãy khám phá xem có những món ăn quen thuộc ngày Tết nào có trong gia đình bạn.
Bánh Chưng, bánh Tét
Một trong những món ăn truyền thống đặc biệt nhất trong ngày Tết của người Việt Nam là bánh chưng, bánh tét. Khi Tết đến gần, bạn sẽ nhận thấy ngọn lửa cháy suốt đêm trên bếp trong hầu hết các ngôi nhà Việt Nam. Các gia đình đang nấu những chiếc bánh truyền thống đón Tết.
Việt Nam là đất nước trồng lúa nước nên có rất nhiều loại bánh truyền thống của Việt Nam được làm từ đó. Bánh chưng, bánh tét được làm từ gạo nếp, đậu xanh, thịt lợn và là những thực phẩm cần thiết cho ngày Tết Nguyên đán. Màu sắc của bánh tượng trưng cho đất và trời. Người miền Bắc chế biến bánh chưng, một loại bánh hình vuông, trong khi người miền Nam chuộng bánh tét hình trụ.
Bánh Chưng, bánh Tét được làm bằng gạo nếp, thịt lợn và đậu xanh, mỗi nguyên liệu được gói bên trong một loại lá đặc biệt gọi là lá dong hoặc lá chuối. Làm bánh Chưng, bánh Tét đòi hỏi sự cẩn thận và tỉ mỉ trong từng bước. Gạo và đậu xanh phải ngâm nước một ngày cho dẻo hơn. Thịt lợn thường được ngâm với hạt tiêu trong vài giờ. Việc tạo hình bánh bằng dây tre đòi hỏi đôi bàn tay khéo léo mới có thể tạo thành hình hoàn hảo.
Đặc biệt hơn, các tỉnh miền Tây sẽ có thêm món bánh Tét ngọt. Vì người dân địa phương có xu hướng dựa trên công thức nấu ăn của họ dựa trên những nguyên liệu tự nhiên gần gũi trong tay để tạo nên dấu ấn riêng. Điển hình là tỉnh Cần Thơ nổi tiếng với món bánh tét lá cẩm với màu tím bắt mắt.
Nhân bánh gồm các nguyên liệu thơm ngon như đậu xanh, đậu đen, thậm chí là cả lòng đỏ trứng muối. Tất cả được gói chặt và đẹp mắt trong lá chuối. Bánh được cắt thành từng miếng có màu tím sẫm của chuối, màu vàng của đậu xanh và màu cam của trứng. Hương vị của bánh Tét ngọt dẻo thơm ngon không kém gì bánh Chưng, bánh Tét mặn.
Thịt kho Tàu
Món thịt heo kho nước dừa được xem là những món ăn có mặt trong bữa ăn hàng ngày và cả dịp Tết quan trọng. Theo người xưa truyền tai lại thì thời xa xưa, khi các tàu thuyền ra khơi, người ta thường nấu một nồi thịt kho có thể ăn được nhiều ngày khi lênh đênh trên tàu nên người ta đặt tên cho món thịt này là thịt kho tàu.
Trong các món ăn truyền thống ngày Tết cổ truyền, thịt kho tàu là món ngon gợi nhớ nhiều kỉ niệm. Tuy rằng món ăn đơn giản, dễ làm nhưng đòi hỏi cách chọn mua thịt tươi ngon, cách ướp gia vị đặc biệt, để món thịt kho đậm đà như mong muốn. Thành phẩm của món ăn cần thịt kho mềm và có màu nâu vàng sóng sánh.
Thực sự hiếm hoi khi món thịt kho tàu xuất hiện trong cả bữa ăn hàng ngày lẫn mâm cỗ Tết cổ truyền. Món thịt kho tàu này mang đến sự ấm cúng, sum vầy. Sự hoà hợp giữa các nguyên liệu thịt, trứng như một sự thể hiện tình cảm gia đình hòa thuận, yên vui. Hương vị, ý nghĩa của món ăn gợi nhớ hình ảnh quen thuộc trong bữa ăn ngày Tết cổ truyền của người Việt.
Thịt đông
Miền Nam có món thịt kho tàu quen thuộc, thì miền Bắc lại có món thịt đông không thể thiếu mỗi dịp Tết cổ truyền. Món thịt đông có sự hòa hợp các nguyên liệu để thể hiện sự hòa hợp, gắn kết, yêu thương của các thành viên trong gia đình. Không chỉ có thế, màu sắc trong trẻo của món ăn mang ý nghĩa như một niềm hy vọng cho một năm mới may mắn, thuận lợi sẽ đến với cả gia đình.
Món thịt đông này thường được chế biến từ các nguyên liệu: chân giò lợn, tai heo hoặc thịt gà. Khi nấu, các nguyên liệu sẽ được hầm nhừ, nêm nếm gia vị vừa ăn, sau đó để nguội và bỏ vào tủ lạnh để làm đông món thịt.
Lúc ăn bạn sẽ cảm nhận được độ ngậy và cảm giác lành lạnh tan nhanh trong miệng. Bạn có thể ăn kèm cơm trắng và các món muối chua giúp tăng thêm hương vị món ăn để giúp cơ thể tiêu hóa một cách dễ dàng.
Canh khổ qua nhồi thịt
Bạn sẽ thắc mắc tại sao người Việt lại chọn món ăn có vị đắng cho ngày đầu năm mới. Điều này có thể rất ngạc nhiên, nhưng canh khổ qua thịt là một phần trong cách chơi chữ của người dân miền Nam Việt Nam.
Nhìn bề ngoài có vẻ đơn giản nhưng mướp đắng nhồi thịt lại chứa đựng nhiều yếu tố quan niệm của người miền Nam. Trong tiếng Việt, từ “ khổ ” có nghĩa là khó khăn và “ qua ” có nghĩa là vượt qua. Vì vậy, về cơ bản, món này trong những ngày đầu năm mới với mong muốn những điều không may mắn trong năm cũ sẽ qua đi và họ sẽ đón một năm mới an lành.
Canh khổ qua bổ dưỡng có hương vị đắng và ngọt. Ngoài ra, canh khổ qua còn rất tốt cho sức khỏe nhờ nước dùng có vị thanh mát, giúp giải cảm trong thời tiết giao mùa. Những ngày Tết khi bạn đã ngán ngẩm với những món dầu mỡ, thì món canh khổ qua là món ăn tuyệt vời để bạn thưởng thức.
Các món dưa củ muối chua
Món ăn kèm ngày Tết không thể thiếu dưa hành muối chua. Tùy vào mỗi vùng miền mà các món dưa củ muối chua cũng khác nhau. Chẳng hạn như miền Bắc thích ăn hành tím muối chua, miền Trung, miền Nam lại thích củ kiệu, dưa món.
Ẩm thực người Việt luôn coi trọng sự hài hòa trong từng món ăn, để cân bằng lại hương vị. Do đó, các món ăn kèm được muối chua là không thể thiếu, nó giúp chống ngán từ món thịt mỡ, thịt đông, bánh chưng...Ngoài việc cân bằng hương vị món ăn, những lại rau, củ lên mên này còn giúp thúc đẩy quá trình tiêu hóa thức ăn.
Món ăn có vẻ ngoài mộc mạc nhưng giản dị này, trái ngược với suy nghĩ của nhiều người, đòi hỏi một quá trình nấu nướng vô cùng tỉ mỉ. Từ ngâm hành, kiệu, sau đó rửa qua nước đem phơi nắng. Tiếp tục công đoạn bóc lớp vỏ ngoài khô héo, cắt bỏ rễ hành, kiệu cho thật khéo và cuối cùng là công đoạn nấu nước dấm để muối chua.
Tuy rằng, cách làm các món muối chua hơi cực, nhưng để chuẩn bị chu đáo và chủ yếu là phục vụ ngày Tết nên chắc hẳn một điều ai mấy đều cảm thấy vui, hăng hái khi tự tay làm ra món ăn kèm đặc biệt này.
Mứt Tết
Đây là một trong những món ăn vặt đặc biệt dùng để đãi khách ngày Tết. Nó được làm từ nhiều loại trái cây khô khác nhau như dừa, táo, cà rốt, cà chua, ... Vị ngọt và màu sắc sặc sỡ của nó được cho là sẽ mang lại may mắn cho năm mới.
Khay mứt ngày Tết cổ truyền không đơn thuần là món nhâm nhi uống trà mà nó còn mang rất nhiều ý nghĩa trong từng loại mứt. Chẳng hạn như:
- Mứt hạt sen: có vị thanh ngọt, mang ý nghĩa một năm mới sum họp, con cháu đầy nhà.
- Mứt dừa: vị ngọt béo thơm ngon, cũng mang ý nghĩa sum vầy hạnh phúc cho cả gia đình, bạn bè trong năm mới.
- Mứt gừng: vị cay nồng ấm, có ý nghĩa cầu mong cho một cuộc sống đầm ấm, hạnh phúc trong năm mới.
- Mứt đậu phộng: giòn tan ngọt bùi là hương vị đặc trưng của mứt đậu phộng, nó còn biểu tượng cho sức khỏa, sự trường thọ trong năm mới.
- Mứt tắc: có màu vàng mật ong đẹp mắt, vị chua ngọt kích thích vị giác. Mứt tắc mang đến vận may, an lành, thịnh vượng.
Các loại giò, chả
Giò, chả là một trong những món ăn không thể nào thiếu trong ẩm thực ngày Tết cổ truyền. Mỗi vùng miền của Việt Nam sẽ sở hữu khẩu vị ẩm thực khác nhau, nhưng đều có những món ăn chung cho ngày Tết như dưa hành, dưa kiệu, và đặc biệt là giò, chả lụa.
Miếng giò chả trông có vẻ dung dị nhưng lại là biểu tượng của sự phú quý, sang trọng, trong ấm ngoài êm, phúc lộc đầy nhà. Từng cây giò, chả thơm ngon dân giã còn mang một ý nghĩa đặc biệt là “trong ấm ngoài êm”.
“Trong ấm” tượng trưng cho phần nhân bên trong. Cây chả lụa được làm từ thịt thăn heo để tạo ra miếng chả lụa ngon ngọt. Thịt thăn heo khi chọn mua phải tươi ngon, ấm thì mới làm ra chả lụa ngon.
“Ngoài êm” tượng trung cho lớp vỏ chả lụa. Thường người làm chả sẽ phải bọc chả bằng 3 lớp lá chuối để bảo quản nhân không bị hư.
Nhưng phải lựa lá xanh loại mượt, mềm, không được rách, phải làm sạch sẽ, hong trên hơi nước sôi và lau khô để đảm bảo độ dẻo khi gói, chả được buộc bằng lạt, khéo
Miếng giò chả trông có vẻ dung dị nhưng lại ẩn chứa biểu tượng về sự phú quý, sang trọng, trong ấm ngoài êm, phúc lộc đầy nhà.